Huong Giang Hotel Resort & Spa

Trung tâm Văn hóa Huyền Trân

Những thế kỷ trước đây, nhân dân Huế đã lập đền thờ Huyền Trân Công Chúa tại một điểm phía Nam thành phố Huế, nhưng do chiến tranh và những biến thiên của lịch sử nên đến nay không còn nữa.
 


Nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hoá - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306 - 2006); được sự đồng ý của UBND Tỉnh, Công ty Du lịch Hương Giang đã góp phần xây dựng Trung tâm Văn hoá Huyền Trân. Đây là một công trình văn hoá du lịch mang ý nghĩa lịch sử và tâm linh, được bắt nguồn từ tình cảm và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc ta - một dân tộc luôn biết ơn và tôn vinh những người có công với đất nước mà một trong những người có công đầu là Huyền Trân Công Chúa, người con gái yêu thương và xinh đẹp của Đức thượng hoàng Đại Việt Trần Nhân Tông đã hy sinh tình yêu và hạnh phúc của riêng mình mà ra đi vì sự nghiệp lớn để đem về cho Đại Việt một vùng đất thiêng Châu Ô, Châu Lý vuông ngàn dặm ... là phần đất từ Nam sông Hiếu - Đông Hà - Quảng Trị ngày nay đến Bắc sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam bây giờ.

Trung tâm Văn hoá Huyền Trân nằm về phía Đông Nam thành phố Huế cách đàn Nam Giao chừng 3 cây số, dưới chân dãy núi Ngũ Phong bạt ngàn thông xanh, trên một không gian rộng hơn 28 héc ta, rất thuận tiện cho việc đi lại của du khách trên các loại phương tiện đường bộ (từ đàn Nam Giao đi vào hoặc Lăng Khải Định đi qua). Trong trung tâm này có ngôi đền thờ Huyền Trân Công Chúa và đền thờ Đức vua Trần Nhân Tông,  dưới chân núi Ngũ Phong và trên đỉnh núi ở độ cao 108 mét xây dựng tháp chuông Hoà Bình và treo một quả chuông đồng nguyên chất nặng 1,6 tấn, cao 2,16 mét, tiếng chuông ngân vang lan toả trong cõi thinh không tĩnh lặng để cầu nguyện Thế giới Hoà bình - Nhân loại Hạnh phúc.

Ngoài ra, một số công trình đang được xây dựng tại Trung tâm Văn hoá Huyền Trân như: Thiền viện Đức vua Trần Nhân Tông, nhà phong lan, vườn thư pháp ...., và một số nhà dành riêng cho việc sáng tác âm nhạc, mỹ thuật, văn học nghệ thuật; một thư viện để lưu giữ và nghiên cứu các tài liệu về vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Huyền Trân Công Chúa, Đoàn Nhữ Hài, Trương Hán Siêu..., cùng các nhân vật anh hùng khác dưới thời đại nhà Trần, Thiền phái Trúc Lâm qua các Triều đại, văn hoá Huế và lịch sử văn hoá kiến trúc Chămpa.

Từ nay, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có thêm một địa danh du lịch văn hoá tâm linh để khách thập phương đến thưởng ngoạn, chiêm bái và tri ân bao lớp người xưa từ châu thổ sông Hồng, sông Mã trên đường xuống phương Nam mở đất.

Núi Ngự Bình

Sách "Đại Nam Nhất Thống Chí" của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn viết "Phía Đông bắc Hương Thuỷ, nổi vọt lên ở quãng đất bằng" như hình bức bình phong làm lớp án thứ nhất trước kinh thành, tục gọi là núi Bằng, đời Gia Long đặt cho tên hiện nay (Ngự Bình), đỉnh núi bằng phẳng, khắp nơi trồng thông.
 

Núi Ngự Bình cao 105 m, dáng cân đối uy nghi. Hai bên Bằng Sơn có hai ngọn núi nhỏ chầu vào gọi là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn. Vương triều Nguyễn được thành lập, quyết định xây dựng kinh thành Huế, thấy Bằng Sơn như một bức bình phong án ngữ trước mặt, Gia Long chấp nhận đồ án của các thầy địa lý: chọn núi này làm tiền án của hệ thống phòng thành đồ sộ, kiên cố và đổi tên cho ngọn núi này là Ngự Bình.

Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thuỷ hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương - núi Ngự, miền Hương Ngự cũng vì vậy.

Từ bao thế hệ, lớp lớp tao nhân mặc khách từng coi đây là chốn thưởng ngoạn thiên nhiên kỳ thú. Vào những ngày đẹp trời, đứng trên đỉnh Ngự Bình, có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố với cung điện nguy nga, mái chùa cổ kính và dòng sông Hương xanh biếc uốn lượn quanh co. Ngay trước tầm mắt là các khu đồi, là rừng thông bát ngát tiếp đến một vùng đồng bằng rộng lớn của các huyện: Hương Thuỷ, Phú Vang, Hương Trà cỏ cây xanh rờn...,xa hơn là dãy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm ẩn hiện sau những tầng mây bạc. Nhìn về phía Ðông, dải cát trắng mờ phía xa cửa Thuận An với màu xanh thăm thẳm của biển Ðông...

Cách núi Ngự Bình vài km là đồi Vọng Cảnh, một danh thắng khác của Huế, đứng soi bóng duyên dáng bên dòng sông Hương, nhìn qua núi Ngọc Trản. Từ đồi Vọng Cảnh có thể nhìn thấy những khu vườn cây ăn quả mướt xanh của cau, nhãn , cam, quýt, thanh trà,...chen lẫn bóng thông, những mái nhà ngói xám của đền chùa, lăng tẩm cổ kính, trầm mặc....Sông Hương như một dải lụa mềm uốn quanh dưới chân đồi...Du khách có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan hay lúc hoàng hôn, mới hiểu hết và thấm thía vẻ đẹp nên thơ, nên hoạ của một ngọn đồi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế.

Chùa Thiên Mụ

Năm 1601 chùa được xây dựng. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3285 kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch.
 


Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21 m). Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.

Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.

Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.

Lăng Tự Đức

Lăng vua Tự Đức được xây dựng trong một bối cảnh lịch sử cực kỳ khó khăn của đất nước, và của chính bản thân nhà vua. Vua sinh năm 1829, lên ngôi năm 20 tuổi(1848).

 

 

Sau đó 10 năm, vì triều đình Huế áp dụng chính sách đối ngoại hẹp hòi, thực dân Pháp tấn công Ðà Nẵng (1858) rồi vào đánh chiếm Gia Ðịnh (1859) và một số tỉnh khác ở Nam Kỳ (1862)... vua Tự Ðức đã là người hấp thụ khá đầy đủ nền văn hóa và triết học Ðông phương với một mâu thuẫn nội tại của nó giữa cái tích cực lúc trẻ và tiêu cực lúc già, giữa sự sống và cái chết. Càng thất bại trước việc nước nhà khi càng luống tuổi,ông càng bi quan yếm thế. Nhà vua nghĩ đến cái chết tất nhiên sẽ đến với đời mình, và để vơi bớt những dằn vặt khổ đau trong những quãng đời còn lại, cho nên hạ lệnh xây dựng lăng tẩm như một hoàng cung thứ hai để thỉnh thoảng lên đây tiêu khiển, nghỉ ngơi, và cũng để làm "ngôi nhà lâu đài của trẫm" (vi ngô vĩnh vũ, trích bài Khiêm Cung Ký).


Ðứng trong thời đại ngày nay nhìn lại hoàn cảnh khó khăn bấy giờ của đất nước, qui mô kiến trúc lớn lao tốn kém của lăng vua, và các danh xưng Khiêm cung, Khiêm Lăng được dùng để đặt tên cho nó, chúng ta thấy đó cũng là một mâu thuẫn nội tại khó biện minh được của chính nhà vua.

Nhưng dù sao sau khi xây lăng xong, vua Tự Ðức cũng còn sống thêm 16 năm nữa, cho đến năm1883, thọ 55 tuổi.

Sau khi các quan chuyên môn về địa lý đi coi đất và chọn được vị trí ở làng Dương Xuân Thượng, vua Tự Ðức đã "chuẩn định" đồ án kiến trúc lăng tẩm theo sở thích của mình vào tháng 10/1864. Nhưng còn phải coi ngày cho tốt nữa, nên đến tháng 12 năm ấy mới khởi công xây dựng.

Toàn bộ công tác kiến trúc lăng tẩm này được dự liệu sẽ thi công trong 6 năm với 3.000 lính và thợ, và họ sẽ được thay phiên về nghĩ 3 tháng một lần. Nhưng viên Biện lý bộ Công bấy giờ là Nguyễn Văn Chất tâu xin thực hiện trong 3 năm mà thôi. Triều đình cử ông và thống chế Lê Văn Xa ở bộ Binh đứng ra coi sóc việc thi công.

Ðã không được thay phiên nhau về nghỉ lại bị cưỡng tăng cường sức lao động đến mức tối đa trong những điều kiện tối thiểu, 3.000 lính và thợ bất mãn ấy đã nghe theo tiếng gọi nổi dậy của Ðoàn Trưng.   Ðêm 16 rạng ngày 17/9/1866 họ dùng chiêu bài tôn phò "Ngũ đại hòan tôn" kéo về Kinh thành để lật đổ ngài vàng của vua Tự Ðức nhằm đưa Ưng Ðạo, cháu nội 5 đời của vua Gia Long lên ngôi, nhưng khi vào đến được điện Thái Hòa thì bị quân của triều đình phản ứng mạnh, nên thất bại. Cuộc nổi loạn bị dập tắt hoàn tòan. Một tai nạn của vua Tự Ðức đã qua đi, nhưng uy tín của nhà vua bị tổn thương không ít, vì đây không phải là một cuộc ngoại xâm, mà là một cuộc nổi biến ngay giữa lòng triều đình Trung ương.

Trong số 13 vua Nguyễn, vua Tự Đức là người uyên thâm nhất về nền học vấn Ðông Phương, nhất là Nho học. Vua giỏi về cả sử học, triết học, văn học nghệ thuật và đặc biệt là rất sính thơ. Vua đã để lại 600 bài văn và 4.000 bài thơ văn chữ Hán và khoảng 100 bài thơ chữ Nôm. Thơ văn nhà vua phản ánh một con người nhân hậu, một tâm hồn đa cảm, một tư chất hâm mộ nghệ thuật. Tư chất ấy cũng biểu lộ rõ trên nghệ thuật kiến trúc của lăng vua. Sử cho biết chính nhà vua đã "chuẩn định" (décider) mô thức xây dựng nó. Trong vòng La thành rộng khoảng 12 ha, gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ dàn trải thành cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhau chừng 10m. Nhưng, các hệ thống thống bậc cấp lát đá thanh, các lối đi quanh co lát gạch bát tràng đã nối tất cả các công trình kiến trúc lại thành một thể thống nhất, tương quan, gần gũi.

Qua khỏi Khiêm Cung Môn, cửa tam quan hai tầng dựng trên một thế đất cao, người ta bước vào một hệ thống cung điện gồm vài chục tòa nhà lớn nhỏ và các công trình kiến trúc phụ thuộc.

Tòa ngang dãy dọc nơi đây đã được dành cho vua và đoàn cung nữ tùy tùng thỉnh thoảng lên ở lại vui chơi. Riêng Minh Khiêm Ðường, ngày nay đuợc xem là nhà hát xưa nhất Việt Nam và mang giá trị nghệ thuật kiến trúc trang trí. Ðiện Hòa Khiêm, nơi thờ đế và hậu, hiện còn chứa nhiều đồ ngự dụng và các tác phẩm mỹ thuật đương thời.

Nếu nhà cửa ở Khiêm Cung đều làm bằng gỗ thì tất cả các công trình kiến trúc ở khu vực lăng mộ bên kia đều được xây bằng gạch, đá. Ðáng để ý nhất là tấm bia lớn nhất Việt Nam cao chừng 5m, được bảo vệ bằng một tòa nhà đồ sộ kiên cố với cột to, vách dày và xây cửa cuốn. Các nhà kiến trúc đã cho xây Bi đình bằng vật liệu và kiểu thức như vậy là dùng để chống chọi với thời gian. Trên ngọn đồi nằm bên kia hồ bán nguyệt Tiểu Khiêm Trì là Bửu Thành xây bằng gạch và chính giữa có ngôi nhà nhỏ xây bằng đá thanh, nơi vua yên nghỉ. Bửu thành được bao phủ bởi một rừng thông xanh ngắt, reo vi vu suốt bốn mùa.

Ngoài ra, hệ thống tháo thoát trong toàn lăng tẩm đã được thiết kế, xây dựng một trình độ cao, và lưu thông rất tốt.Nhìn chung, mỗi công trình kiến trúc trong lăng Tự Ðức đều mang một đường nét khác nhau về nghệ thuật tạo hình: không trùng lặp và rất sinh động. Cách phân bố các khu vực và bố cục các công trình kiến trúc trong từng khu vực ở lăng Tự Ðức đã phá bỏ hệ thông lệ giữ gìn sự đối xứng từng cổ điển ở một số lăng khác. Tại đây còn có những lối đi uốn lượn mềm mại theo thế đất tự nhiên hoặc do bàn tay con người tạo dáng. Ðường nét kiến trúc thật phóng khóang, hài hòa thiên nhiên có sẵn, hoặc cải tạo lại cho phù hợp với nghệ thuật kiến trúc phong cảnh.

Nếu phá vỡ sự đối xứng cũng là một nét đẹp trong nghệ thuật thì lăng Tự Ðức có thêm nét đẹp đó. Kiến trúc và thiên nhiên ở đây gây được nhiều cảm xúc thẩm mỹ mới lạ cho người đến tham quan, và phản ánh được tâm hồn lãng mạn trữ tình của một ông vua thi sĩ.

lăng Tự Ðức là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình, gợi cho du khách một "hồn êm thơ mộng".

Lăng Khải Định

Lên ngôi năm 1916, vua Khải Ðịnh chọn triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu £) cách Huế 10 km để xây dựng lăng mộ. Lăng khởi công ngày 4/9/1920 và kéo dài 11 năm mới hoàn thành.
 


So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Ðịnh có diện tích nhỏ hơn nhiều (117m x 48,5m) nhưng rất công phu và tốn nhiều thời gian. Nó là kết quả hội nhập của nhiều dòng kiến trúc á âu, việt nam cổ điển và hiện đại.

Tổng thể của lăng là một khối nổi hình chữ nhật vươn cao tới 127 bậc và được chia ra:

- Vào lăng phải vượt qua hệ thống của 37 bậc với thành bậc đắp rồng to lớn nhất cả nước, trên sân có hai dãy Tả - Hữu tòng tự, ở hai bên xây kiểu chồng diêm hai lớp, tám mái, song các vì kèo lại bằng xi măng cốt thép.

Vượt 29 bậc nữa lên tầng sân bái đình, ở giữa có nhà bia Bát giác xây bê tông cốt thép hoà trôn cổ kim, trong đó có bia đá. Hai bên sân, mỗi bên có 2 hàng tượng cùng nhìn vào giữa sân. Ngoài trượng như ở các lăng khác, còn có thêm 6 cặp tượng linh túc vệ, từng đôi tượng cùng loại ở cạnh nhau được làm đối xứng và cùng đối xứng với đôi tượng phía đối diện. Các tượng này làm bằng chất liệu đá hiếm trong lăng Khải Ðịnh và đều có khí sắc. Hai cột trụ biểu cao to.

Qua 3 lớp nền là đến điện thờ. Từ sân lên cửa điện còn phải qua 15 bậc nữa. Ðiện Khải Thành là phòng chính của cung Thiên Ðịnh, có nhiều phòng liên hoàn. Các điện tường phẳng được trang trí dày đặc bằng nghệ thuật khảm kính sứ. Cùng với tranh trên tường, dưới nền lát gạch men hoa và trên trần vẽ Cửu long ẩn hiện trong mây. Cả không gian 6 mặt đã tạo nên một thế giới nghệ thuật.

Phòng sau của điện Khải Thành là chính tẩm có đặt tượng vua Khải Ðịnh, mộ phần ở phía dưới. Trong cùng là khán thờ với bài vị của vị vua đã quá cố.

Lăng Khải Ðịnh thực sự là một công trình có giá trị nghệ thuật và kiến trúc. Nó làm phong phú và đa dạng thêm quần thể lăng tẩm ở Huế.

Lăng Minh Mạng

Lăng Minh Mạng thuộc địa phận núi Cấm Kê, gần ngã ba Bằng Lãng, nơi hợp lưu nguồn Tả Trạch và Hữu Trạch tạo thành sông Hương chảy qua thành phố Huế. Lăng Minh Mạng cách thành phố Huế 12 km.
 


Tháng 4/1840, vua Minh Mạng đổi tên núi Cẩm Kê thành Hiếu Sơn và gọi tên lăng là Hiếu Lăng. Lăng được khởi công xây dựng vào tháng 9/1840.

Ðến tháng 1/1841 công trình đang xúc tiến thì Minh Mạng lâm bệnh mất, vua Thiệu Trị lên nối ngôi và tiếp tục cho xây dựng lăng theo đúng thiết kế cũ. Tháng 8/1841 thi hài vua Minh Mạng được đưa vào chôn ở Bửu Thành. Ðến năm 1843 thì việc xây lăng mới hoàn tất.

Lăng Minh Mạng là một tổng thể kiến trúc qui mô gồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ gồm Cung điện, lâu đài, đình tạ,....được bố trí cân đối trên một trục dọc từ Ðại Hồng Môn (ở ngoài cùng) tới chân tường của La Thành sau mộ vua.

Các công trình được phân bố trên ba trục lớn song song với nhau mà đường Thần Ðạo là trung tâm. Tổng thể của lăng được chia ra:

- Ðại Hồng Môn là cổng chính vào lăng. Cổng có 3 lối đi với 24 mái lô nhô cao thấp và các trang trí rất đẹp. Cổng chính chỉ mở một lần để đưa quan tài của Vua vào lăng, muốn ra vào phải qua hai cổng phụ là Tả Hồng môn và Hữu Hồng môn.

- Bi Đình: sau Ðại Hồng môn là sân rộng, có 2 hàng tượng quan viên, voi ngựa. Bi Đình nằm trên đồi Phụng Thần Sơn, bên trong có bia "Thánh Ðức thần công" do vua Thiệu Trị viết về tiểu sử và công đức của vua cha.

- Khu vực tẩm điện (nơi thờ cúng vua): đi tiếp là sân triêu lễ được chia làm 4 bậc. Mở đầu khu vực tẩm điện là Hiểu Ðức Môn; điện Sùng Ân nằm ở trung tâm thờ bài vị của vua và bà Tá Thiên Nhân Hoàng hậu. Hoàng Trạch môn là công trình kết thúc khu vực tẩm điện và ngát thơm hoa đại.

- Lầu Minh Lâu: đi tiếp qua ba cây cầu Trung Ðạo (giữa), Tả Phụ (trái), Hữu Bật (Phải) bắc qua hồ Trường Minh là đến lầu Minh Lâu (lầu sáng) xây dựng trên quả đồi có tên là Tam Ðài Sơn. Toà nhà có hình vuông, hai tầng, tám mái. Hai bên Minh Lâu về phía sau là hai trụ biểu dựng trên hai quả đồi Bình Sơn và Thành Sơn. Phía sau Minh Lâu là hai vườn hoa hình chữ Thọ đối xứng nhau qua đường Thần đạo.

- Bửu Thành (thành quanh mộ): hồ Tân Nguyệt hình trăng non ôm lấy Bửu Thành hình tròn nằm ở giữa. Qua cầu Thông Minh Chính Trực bắc qua hồ Tân Nguyệt có 333 bậc đá thanh là đến nơi yên nghỉ của nhà vua nằm giữa trung tâm quả đồi mang tên Khai Trạch Sơn được giới hạn bởi Bửu Thành hình tròn.

Lăng Minh Mạng với Bi đình, Hiểu đức môn, điện Sùng Ân và Minh lâu và gần 60 ô chữ chạm khắc các bài thơ trên đó là một bảo tàng thơ chọn lọc của nền thi ca Việt Nam đầu thế kỷ XIX...

Ngoài tính cách đăng đối uy nghi, đường bệ, lăng Minh Mạng còn có những nét quyến rũ của thiên nhiên đã được cải tạo để làm bối cảnh cho các công trình kiến trúc.

Vườn Quốc Gia Bạch Mã

Núi Bạch Mã và là Vườn Quốc Gia cách thành phố Huế 60km về phía Nam. Ở độ cao 1.450 m so với mực nước biển, Bạch Mã có khí hậu như Sa Pa, Tam Đảo hay Đà Lạt. Ở đây thực vật phong phú, tươi tốt quanh năm, động vật cũng đa dạng và vô số các loài chim.
 

Núi Bạch Mã nổi tiếng bởi có những con suối và nhiều ngọn thác ngoạn mục. Từ cây số 16 dọc đường Cầu Hai - Bạch Mã, du khách sẽ đi bộ theo  một con đường nhỏ khoảng 30 phút sẽ đến thác Ðỗ Quyên cao 400m, rộng 20m hiện ra bất ngờ như treo giữa trời. Những ngày hè, hai bên bờ thác, hoa Ðỗ Quyên nở rộ như hai thảm lụa hoa khổng lồ. Ở trung tâm khu nghỉ mát có ngọn thác Bạc cao 10m, rộng 40m như một bức rèm trắng muốt đung đưa trước gió.

Ðứng trên đỉnh núi Bạch Mã, du khách có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh lộng lẫy của đèo Hải Vân, núi Túy Vân, đầm Cầu Hai và ánh điện lung linh của thành phố Huế vào ban đêm.

Biển Lăng Cô

Bãi biển Lăng Cô dài 10km, nằm cạnh đường quốc lộ 1A, gần đèo Hải Vân và chỉ cách khu Bạch Mã 24km.
 

Với bờ biển thoải, cát trắng, nước biển trong xanh, và nhiệt độ trung bình khoảng 25oC vào mùa hè, Lăng Cô là nơi lý tưởng cho những ai đam mê tắm biển. Ngoài việc tận hưởng những món ăn hải sản tuyệt vời, du khách có thể đến thăm thắng cảnh Chân Mây và làng chài Lăng Cô gần bãi biển.

Sông Hương

Sông Hương có hai ngọn nguồn. Nguồn tả trạch xuất phát từ dãy núi Trường Sơn chảy về hướng Tây Bắc qua 55 ngọn thác hùng vĩ, rồi từ từ chảy qua ngã ba Bằng Lãng;
 

Nguồn Hữu Trạch ngắn hơn sau khi vượt 14 ngọn thác hiểm trở và qua bến đò Tuần thì đến ngã ba Bằng Lãng hợp dòng với Tả Trạch thành sông Hương thơ mộng. Sông Hương dài 30 km nếu chỉ kể từ Bằng Lãng đến cửa Thuận An, độ dốc của dòng nước so với mặt biển không chênh lệch nhiều nên nước sông chảy chậm. Sắc nước sông Hương trở nên xanh hơn khi vượt qua chân núi Ngọc Trản - điện Hòn Chén, tạo nên một lòng vực sâu thẳm.

Sông Hương đẹp từ nguồn, uốn lượn quanh co giữa núi rừng, đồi cây mang theo những mùi vị hương thơm của thảo mộc rừng nhiệt đới. Dòng sông chầm chậm lướt qua các làng mạc xanh tươi, rợp bóng cây của Kim Long, Nguyệt Biều, Vĩ Dạ, Ðông Ba, Gia Hội, Chợ Dinh, Nam Phổ, Bao Vinh, quyện theo mùi thơm của các loài hoa xứ Huế. Dòng sông xanh trong vắt lung linh như ngọc bích dưới ánh mặt trời, những con thuyền Huế xuôi ngược, dọc ngang với điệu hò man mác, trầm tư, sâu lắng giữa đêm khuya. Ði chơi bằng thuyền để được ngắm cảnh Hương giang thơ mộng, nghe những điệu hò, dân ca xứ Huế lúc trời đêm thanh vắng là thú vui muôn thuở của bao lớp du khách....

Quang cảnh đôi bờ sông nào thành quách, phố xá, vườn cây, chùa tháp...bóng lồng mặt nước phản chiếu lung linh làm cho dòng sông đã yêu kiều càng nên thơ nên nhạc. Nhiều người nghĩ rằng sở dĩ Huế có được cái êm đềm, dịu dàng, yên tĩnh phần lớn là nhờ sông Hương - dòng sông xanh đã đem lại cho thành phố cái chất thơ trầm lắng, cái trong sáng hài hoà toả ra từ vùng đất có chiều sâu văn hiến.

Kinh thành Huế

Huế từ xa xưa đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của xứ "Ðàng Trong" và chính thức trở thành kinh đô dưới triều Tây Sơn. Trong gần 4 thế kỷ, Huế đã trở thành một quần thể di tích kiến trúc và thắng cảnh vĩ đại, tổng thể di tích này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Nằm ở bờ Bắc sông Hương, tổng thể kiến trúc của cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500 ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.

Tổng thể kiến trúc này dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng hai hòn đảo nhỏ trên sông Hương là Cồn Hến và Dã Viên làm 2 yếu tố phong thuỷ rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ cố đô.

Kinh Thành Huế: Do vua Gia Long xây dựng từ năm 1805 và sau này được vua Minh Mạng tiếp tục hoàn thành vào năm 1832. Tại đó các vua triều Nguyễn đã cho xây dựng khá nhiều thành quách, cung điện và các công trình của hoàng gia. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ.

Kinh thành hình vuông với chu vi 10 km, cao 6,6 mét, dày 21 mét, gồm có 10 cửa để ra vào. Xung quanh và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ. ngoài ra còn có một cửa phụ thông với Trấn Bình Ðài gọi là Thái Bình Môn.

Hoàng Thành (Ðại Nội): Nằm ở khoảng giữa kinh thành là nơi đặt các cơ quan cao nhất của chế độ quân chủ và là nơi thờ tự các vua chúa đã quá cố. Hoàng Thành có mặt bằng gần vuông, mỗi bề khoảng 600 mét, xây bằng gạch, cao 4 mét, dày 1 mét xung quanh có hào bảo vệ. có 4 cửa để ra vào, riêng Ngọ Môn chỉ dành để cho vua đi. Ðại Nội gồm có hơn 100 công trình kiến trúc đẹp được chia ra nhiều khu vực:

- Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hoà: nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.
- Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và điện Phụng Tiên: nơi thờ các vua chúa nhà Nguyễn.
- Phủ Nội Vụ: nhà kho tàng chữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng cho Hoàng Gia.
- Vườn Cơ Hạ và điện Khâm Văn: nơi các hoàng tử học tập và chơi đùa.

Tử Cấm Thành: là vòng thành nằm trong Hoàng Thành ngay sau lưng điện Thái Hoà. Tử Cấm Thành dành riêng cho vua và gia đình vua. Tử Cấm Thành được xây dựng năm 1804. Thành cao 3,72 mét xây bằng gạch, dày 0,72 mét, chu vi khoảng 1230 mét, phía trước và phía sau dài 324 mét, trái và phải hơn 290 mét, bao gồm gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ và có 7 cửa ra vào. Ðại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ dành cho vua đi vào. Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày). Càn Thành (nơi vua ở), Cung Khôn Thái (chỗ ở của Hoàng Quý Phi). Duyệt Thi Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua). Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách)... Ngoài ra Huế còn nổi tiếng bởi khu lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn. Bảy lăng, mỗi lăng mang một sắc thái riêng nhưng đều là những kỳ công tạo tác của con người phối hợp với cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ tươi đẹp và thơ mộng của xứ Huế.

Cố đô Huế với sông Hương và núi Ngự và các cung điện lâu đài, lăng tẩm, đền, miếu, chùa chiền đã có hàng mấy trăm năm lịch sử giờ đây đang được nhân dân Việt Nam cùng cộng đồng Quốc tế đóng góp công sức và tiền của để tôn tạo tu bổ giữ cho kiến trúc cố đô Huế mãi mãi là di sản văn hoá của nhân loại.

Các điểm tham quan du lịch nổi tiếng

Khách sạn Hương Giang resort & spa giới thiệu đến quý khách những điểm đến hấp dẫn, nổi tiếng của thành phố. Giúp quý khách có chuyến du lịch trải nghiệm, khám phá thành phố được mệnh danh là thánh địa du lịch Việt Nam.

THÀNH PHỐ HUẾ: đã từng là kinh đô cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam với một quần thể di tích kiến trúc độc đáo về thành trì hoàng cung, Tử Cấm Thành, lăng miếu vua chúa, và đền chùa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

ĐẠI NỘI HUẾ (cách khách sạn 02km): Vua Gia Long, vị vua đầu tiên của Triều Nguyễn, đã cho xây dựng Đại nội theo khuôn mẫu của Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Tuy nhiên, thành lũy được xây dựng theo kiểu kiến trúc của kiến trúc sư quân đội người Pháp Sebastian de Vauban.

TRUNG TÂM VĂN HÓA HUYỀN TRÂN: Cách Đàn Nam Giao 3km về phía Nam, toạ lạc trên đỉnh núi Ngũ Phong hùng vỹ, Trung tâm văn hoá Huyền Trân là nơi tôn thờ Huyền Trân Công chúa- là người có công góp phần mở rộng biên giới đất nước về phía Nam vào thế kỷ XIV. Bà là con gái của đức vua - phật hoàng Trần Nhân Tông.

KHU DU LỊCH DI TÍCH LỊCH SỬ CHÍN HẦM: tọa lạc ở km thứ 5 đến 6 phía Tây Nam thành phố Huế, khu di tích lịch sử Chín Hầm là nơi ghi dấu những chứng tích lịch sử oai hùng và bi thương của những chiến sỹ cách mạng Việt Nam, của những học sinh, sinh viên, thương nhân ...yêu nước. Đồng thời nơi đây cũng phản ánh tội ác của Ngô Đình Diệm, mà tiêu biểu là tên bạo chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn. Vừa qua, khu di tích lịch sử Chín Hầm và ngôi nhà của Ngô Đình Cẩn được công nhận là những địa điểm di tích lịch sử quốc gia. Điểm đặc biệt của khu di tích này là có vị trí gần lăng mộ của các vua Tự Đức, Khải Định và đồi Thiên An đã tạo nên một tour du lịch văn hoá tâm linh rất hấp dẫn.  .

BẢO TÀNG MỸ THUẬT CUNG ĐÌNH HUẾ (cách khách sạn 02km): Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của cố đô Huế từ triều đại phong kiến cuối cùng ở thế kỷ 19 được UNESCO công nhận đã được bảo tồn ở đây .

NAM GIAO: Đàn tế Nam Giao (cách khách sạn 03km): Là nơi thiêng liêng cuối cùng và duy nhất để tôn thờ và cầu nguyện các vị thánh thần cho mùa màng tươi tốt và hòa bình cho đất nước.

LĂNG VUA TỰ ĐỨC: (cách khách sạn 07km): Vua Tự đức trị vì từ năm 1848-1884. Đây là công trình xây dựng hoàng gia cho vua sau khi băng hà, mang đậm vẻ đẹp thơ ca, nơi an nghĩ hòa bình. Lăng Vua Tự Đức cũng là mô hình lăng tẩm thử nghiệm đầu tiên của Việt Nam giới thiệu về ý niệm sống và chết có thể đồng hành cùng nhau.

LĂNG VUA KHẢI ĐỊNH: (cách khách sạn 09km). Vua Khải Định trị vì từ năm 1916-1925. Đây là một tuyệt phẩm về nghệ thuật kiến trúc nhấn mạnh sự kết hợp hài hoà giữa chuyển tác văn hóa kết hợp tinh hoa của nhiều loại hình nghệ thuật, là một sự hoà quyện giữa nghệ thuật của quá khứ và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây. Đây cũng là tác phẩm nghệ thuật gợi nhớ về phong cách phô trương và lòe loẹt trong lối sống của vua Khải Định, đồng thời đánh dấu bước chuyển tác giữa văn hóa phương Đông và phương Tây trong xã hội Việt Nam đầu thế kỷ 20.

LĂNG VUA MINH MẠNG: (Giai đoạn trị vì: 1820-1841) (cách khách sạn 08km):
Ngoài vẻ cân đối hài hòa về mặt kiến trúc, lăng Minh Mạng có vẻ đẹp duyên dáng được xây dựng với nhiều quang cảnh bao quanh độc đáo hỗ trợ cho công tác xây dựng tác phẩm nghệ thuật này.

CHÙA THIÊN MỤ: (chùa Linh Mụ) (cách khách sạn 05km): Với lịch sử xây dựng lâu dài, chùa sở hữu nhiều bảo vật Phật giáo quý giá. Cùa được xây dựng thwr hiện hìn ảnh uynghiêm mà trầm mặc của phật giáo hòa với cảnh quan thiên nhiên hùng vỹ. Ngôi chùa là niềm tự hào của xứ Huế.

ĐIỆN HÒN CHÉN: (Điện Thờ Chén Ngọc) (cách khách sạn 06km): Một công trình xây dựng với mục đích tôn giáo thờ Thánh nữ Thiên Y Ana, tọa lạc ở một mảnh đất ngược dòng sông Hương trong một khu danh lam sắc màu huyền bí đậm chất thơ ca của xứ cố đô.

NHÀ VƯỜN HUẾ: (trong vòng 5km): Mang phong cách xây dựng nhà độc đáo theo kiểu kiến trúc phương Đông. Ngôi nhà vườn Huế thường ở giữa các khu vườn và được xây bởi quy tắc nghiêm ngặt về luật phong thủy. Người dân xứ Huế gần gũi với thiên nhiên, do đó, hầu hết các tác phẩm kiến trúc của ngôi nhà đều hài hòa với cảnh vật xung quanh, tạo nên một thế giới thu nhỏ trong khuôn viên nhà ở.

CHỢ ĐÔNG BA: (cách khách sạn 01km): một địa điểm thú vị để khám phá lối sống và phong cách mua sắm của người dân xứ Huế.

BÃI BIỂN THUẬN AN: (cách khách sạn 12km)

VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ: (cách khách sạn 60km): Vào năm 1932, khu vực này được khám phá bởi một kỹ sư người Pháp, Monsieur Girard, người có hoài bão phát triển một thành phố nghỉ mát trên những đỉnh núi. Những năm sau đó, một khu nghỉ mát với 139 vila đã ra đời. Để giúp đỡ các nhà làm du lịch và tránh đi lại trên dốc cao, một con đường dài 17km đến vườn quốc gia Bạch Mã đã được xây dựng, thậm chí còn có bưu điện, chợ và bệnh viện. Sau khi viên kỹ sư người Pháp rời Việt Nam năm 1945, khu nghỉ mát này đã sớm bị quên lãng và phần còn lại bây giờ chỉ là khu rừng bao phủ đang trở lại thuở hoang sơ.

ĐÈO HẢI VÂN: (cách khách sạn 80km):  Với chiều dài 21km nối tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, đèo Hải Vân được ví như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp giao hoà giữa biển, mây và dãy Trường Sơn hùng vỹ.

Tự thuở xa xưa, con đèo được vinh danh là Ngọn đồi đẹp nhất ở độ cao 1500m so với mặt nước biển, trong đó con đường vượt đèo Hải Vân ôm sát sườn núi như một sợi tơ luồn qua đám mây trên bầu trời luôn hấp dẫn du khách.